Uncategorized

Bảo vệ tổ chức cơ thể chống các tổn thương

Gần đây người ta thấy rằng thiếu selen cùng với thiếu vitamin E làm tăng độ cảm nhiễm đối với nhiều loại virus dẫn tới viêm ruột và viêm cơ tim. Selen tham gia ít nhất vào hai vai trò sinh học quan trọng: Một là tham gia vào quá trình bảo vệ tổ chức cơ thể chống các tổn thương do các chất oxy hóa sinh ra trong cơ thể sau chấn thương hay nhiễm trùng (tương tự vitamin E và C), hai là tham gia vào tổng hợp triiodothyronin. Ngày nay người ta coi bệnh viêm cơ tim ở trẻ em và thiếu niên (bệnh Keshan ở Trung Quốc) là do thiếu selen cùng lúc với nhiễm một số virus.
Natri
Natri là thành phần thiết yếu của dịch ngoại tế bào đóng vai trò như là yếu tố điều hòa áp lực thẩm thấu. Natri cũng cần cho cân bằng toan kiềm. Chế độ ăn thiếu natri ít khi gặp, tình trạng thiếu natri chỉ xảy ra khi ra nhiều mồ hôi, ỉa chảy kéo dài hoặc bệnh thận.
Ở một số quần dân cư, chế độ ăn nhiều natri có liên quan tới tỷ lệ bị đột quị, một số nghiên cứu khác chỉ ra mối liên quan giữa tăng huyết áp với chế độ ăn có nhiều natri. Do đó chế độ ăn giảm natri có lợi cho người tăng huyết áp.
Giữa natri, kali và calci có mối tương tác đối với huyết áp. Duy trì tỷ lệ calci/natri thích hợp giúp điều chỉnh huyết áp thích hợp.
Điều chỉnh lượng natri trong khẩu phần ở giới hạn nhất định khi tăng huyết áp là một vấn đề sức khỏe cộng đồng. Mức “điều chỉnh” nên dựa vào mức đang sử dụng. Thông thường lượng natri trong thức ăn tự nhiên đủ để đáp ứng nhu cầu do đó không cần đề ra giới hạn thấp. Người ta khuyến nghị giới hạn trên của natri không quá 6g/ngày hoặc 2,5g/1000 Kcal.
Các thành phần có ý nghĩa sinh học khác trong thực phẩm
Trong thực phẩm ngoài các chất dinh dưỡng còn có nhiều thành phần sinh học khác trước đây thường gọi là các chất phản dinh dưỡng như các phytat, antitrypsin và các men ức chế khác, tanin, các hợp chất phenol và leitin. Khi khẩu phần thiếu, những tác dụng “phản dinh dưỡng” có vai trò nhất định. Ngược lại, khi khẩu phần đầy đủ, các tác dụng sinh lý liên quan đến các chất này lại có các mặt ích lợi đối với sức khỏe, ví dụ các flavonoid và salicylat. Đây là lĩnh vực đang được nghiên cứu nhiều hiện nay mà các hiểu biết chưa thế nói là đầy đủ.
Các carotenoid không phải là tiền chất của vitamin A
Có trên 500 carotenoid thực vật mà nhiều chất trong số đó có vai trò sinh học đối với cơ thể.