Các thành phần dinh dưỡng

Người ta khuyên dùng thực phẩm giàu calci để dự phòng tăng huyết áp trong thời kỳ có thai.
Lời khuyên chung là chế độ ăn không quá 6 g NaCl mỗi ngày. Các thực đơn cần bớt các thức ăn nhanh, các thực phẩm chế biến công nghiệp (ở các thực phẩm này vị ngọt của đường thường ngụy trang vị mặn!).
Kali
Các chế độ ăn giàu kali thường nghèo natri và ngược lại làm cho nghiên cứu vai trò độc lập của kali khó khăn hơn. Tuy vậy, vai trò của chế độ ăn giàu kali đối với hạ huyết áp đã được khẳng định, chế độ ăn nên có nhiều kali hơn natri. Kali có nhiều trong các loại rau, quả, khoai củ.
Calci
Có nhiều nghiên cứu cho thấy calci có tác dụng làm giảm huyết áp tuy vậy tác dụng đó rõ ràng hơn ở thực phẩm giàu calci (sữa gầy) so với bổ sung calci. Người ta khuyên dùng thực phẩm giàu calci để dự phòng tăng huyết áp trong thời kỳ có thai.
Chất xơ
Đã có những công trình nêu lên tác dụng của chất xơ trong điều hòa huyết áp cả ở người lớn và trẻ em nhưng tác dụng độc lập còn chưa chắc chắn vì một chế độ ăn giảm huyết áp thường có nhiều chất xơ.
Rượu
Rượu gây tăng huyết áp khi uống quá 30 – 45 g etanol mỗi ngày, còn ở liều thấp hơn thì không tác dụng hoặc có khi gây giảm huyết áp nhẹ. Ở một người có huyết áp không ổn định, không nên dùng rượu.
Cà phê
Cà phê gây tăng huyết áp vừa phải, tác dụng ở người bị tăng huyết áp rõ hơn ở người bình thường. Do đó đối với người đã có tăng huyết áp, không nên dùng cà phê.
Tỏi
Một số nghiên cứu cho thấy tỏi có tác dụng giảm huyết áp vừa phải.
Các lời khuyên chung
Một chế độ ăn dự phòng đối với tăng huyết áp nên như sau:
Nhiều rau, quả, các loại hạt, sữa gầy, hạn chế các chất béo no và thể trans, ít các thức ăn chế biến công nghiệp (các chế độ ăn này giàu kali, calci và ít natri).
Hạn chế muối.
Hạn chế hoặc không uống rượu khi mắc bệnh tăng huyết áp.
Hạn chế cà phê ở những người có huyết áp dao động.
Thừa cân và béo phì là yếu tố nguy cơ của tăng huyết áp, do đó cần duy trì cân nặng thích hợp.
Dinh dưỡng và bệnh mạch vành (7,18,30,38,63)
Bệnh mạch vành hay bệnh tim do mạch vành (CHD) là gốc của hội chứng lâm sàng đau thắt ngực và nhiều hội chứng lâm sàng khác như thiếu máu cơ tim im lặng (không đau nhưng có biến đổi ở điện tâm đồ), nhồi máu cơ tim, đột tử (do mạch vành). Có đến 90% trường hợp bị bệnh mạch vành là do vữa xơ động mạch do đó có thể gọi là “bệnh tim vữa xơ động mạch”.