Uncategorized

Chế độ ăn và bệnh mạn tính

Một người bị đái tháo đường có nguy cơ bị suy mạch vành, một người bị tăng huyết áp có nguy cơ bị đột quị hoặc suy thận.
Bảng 38 trên đây là tổng hợp các hiểu biết về mối quan hệ giữa chế độ ăn và ác bệnh mạn tính (21).
Các bằng chứng dịch tễ học thường phù hợp với bảng 38 nhưng cơ chế hãy còn tranh cãi. Bảng này không nói đến vai trò của rèn luyện thể lực, nó có vai trò rất quan trọng ở béo phì, độ bền bỉ và kháng insulin.
Trong quá trình đó các nghiên cứu về sau tiếp tục bổ sung các hiểu biết mới và cũng thường gặp những đính chính nhiều nhận định không đúng và không đủ trước đây. Trong thời gian dài hướng nghiên cứu về mối liên quan giữa chế độ ăn và bệnh tim mạch (CVD) tập trung vào tổng số chất béo và các acid béo no nhưng hiện nay người ta thấy các thành phần khác trong chế độ ăn cũng không kém quan trọng như các chất chống oxy hóa, các bioflavonoid, các acid béo n – 3, vai trò của homocystein… Lý thuyết “nguồn gốc bào thai” (foetal origin) của Barker đang thu hút nhiều sự chú ý và số đông cho rằng một chế độ dinh dưỡng hợp lý dự phòng các bệnh mạn tính cần thực hiện từ khi còn trong bào thai theo suốt các giai đoạn của chu kỳ cuộc đời.
Khi đi vào từng bệnh cụ thể, có một số điểm khác nhau trong chế độ dinh dưỡng dự phòng nhưng nhìn về tổng quát có thể nói chế độ dinh dưỡng dự phòng đối với các bệnh mạn tính đều theo một nguyên tắc chung, trên một nền chung. Có thể thấy béo phì là yếu tố nguy cơ chung của nhiều bệnh mạn tính. Một người bị đái tháo đường có nguy cơ bị suy mạch vành, một người bị tăng huyết áp có nguy cơ bị đột quị hoặc suy thận. Kháng insulin là nền chung của hội chứng X. Các bệnh mạn tính cụ thể khi đã mắc là những đơn vị bệnh độc lập cần có chế độ điều trị và ăn uống khác nhau nhưng về chế độ dinh dưỡng dự phòng đều dựa trên các nguyên tắc chung. Do đó, ở Hoa Kỳ các hiệp hội tim mạch, ung thư, đái tháo đường đã có những khuyến nghị có nhiều điểm tương đồng về chế độ dinh dưỡng dự phòng cho các loại bệnh đó.
Nhìn chung, một chế độ ăn dự phòng có thiên hướng về các thức ăn thực vật. Rau và quả chính cần được ưu tiên sử dụng một cách phong phú. Nên sử dụng các loại sữa ít béo để tăng cường calci. Chỉ coi thịt là các thức ăn phụ, chọn loại thịt ít béo, ưu tiên các loại thịt trắng. Cá nên có mặt trong thực đơn hàng tuần, chọn loại có thịt sẫm màu (như cá hồi) thường giàu các acid béo nhóm n – 3.