Uncategorized

Điều trị cao huyết áp

Từ “xơ vữa động mạch” xuất phát từ tiếng Hy Lạp – athere có nghĩa là cháo đặc và skleros có nghĩa là rắn lại.
Nếu những phương pháp trên thất bại, phương pháp tiếp theo là dùng thuốc, đây là một chiến lược điều trị suốt đời. Có sẵn nhiều nhóm thuốc điều trị huyết áp cao; những nhóm thuốc phổ biến là:
Lợi tiểu nhóm Thiazide.
Chẹn beta.
Ức chế men chuyển.
Ức chế canxi.
Chẹn alpha.
Nhiều bác sĩ sử dụng một thuốc Thiazide hoặc chẹn beta như là phương pháp điều trị đầu tiên; mặc dù thuốc ức chế men chuyển có tác dụng tốt hơn ở người bị tiểu đường. Nhiều thuốc điều trị cao huyết áp có các tác dụng phụ, làm cho người bệnh khó long tiếp tục dùng thuốc. Điều quan trọng là luôn ghi nhớ những lợi ích của việc điều trị kể cả việ làm giảm đáng kể nguy cơ nhồi máu cơ tim hoặc đột quỵ. Điều này đặc biệt thích hợp cho những người bị tiểu đường, dễ bị ảnh hưởng của bệnh cao huyết áp hơn.
Việc phải dùng hai thuốc hoặc hơn là hoàn toàn bình thường. Hơn nữa, bạn có thể phải thử một số phối hợp thuốc cho đến khi tìm ra được phối hợp nào phù hợp với bạn.
Cao huyết áp trong khi mang thai
Phụ nữ mang thai phải được kiểm tra huyết áp định kỳ trong suốt thời gian mang thai vì huyết áp cao có thể chỉ điểm một trong hai tình trạng nguy hiểm – tiền sản giật và sản giật. Khoảng 5-10% phụ nữ mang thai bị tiền sản giật và sản giật, trong trường hợp nặng có thể đe dọa tính mạng của cả mẹ và thai nhi. Nếu sản giật có thể gây xuất huyết não dẫn đến hôn mê. Nguyên nhân gây bệnh có lẽ do vấn đề về nhau thai.
Xơ vữa động mạch
Xơ vữa động mạch là tình trạng bít lấp các động mạch do sự hình thành những mảng mỡ gọi là chứng vữa động mạch. Việc gây hẹp động mạch như vậy làm hạn chế dòng chảy của máu và giảm cung cấp oxy cho các mô của cơ thể. Xơ vữa động mạch có thể ảnh hưởng đến các động mạch ở khắp cơ thể, trầm trọng nhất là khi nó làm tắc nghẽn động mạch nuôi tim hoặc não. Chứng xơ vữa động mạch thường không có triệu chứng gì – dấu hiệu đầu tiên có thể là nhồi máu cơ tim. Vì thế điều quan trọng là bạn nhận biết được nguy cơ bị xơ vữa động mạch và làm tất cả mọi việc để giảm đến mức tối thiểu các nguy cơ gây xơ vữa động mạch và các bệnh có liên quan.
Từ “xơ vữa động mạch” xuất phát từ tiếng Hy Lạp – athere có nghĩa là cháo đặc và skleros có nghĩa là rắn lại. Nguồn gốc của từ này gợi lên hình ảnh cái gì đó xảy ra một cách chính xác như chứng xơ vữa động mạch đang phát triển.