Uncategorized

Homocystein – acid folic và bệnh tim mạch

Homocystein – acid folic và bệnh tim mạch, Với tình trạng hiểu biết hiện nay, người ta khuyên nên tăng cường acid folic
Homocystein có tính độc đối với nội mô mạch máu, giúp sự tăng kết dính tiểu cầu và biến đổi nhiều yếu tố đông máu.
Quá trình chuyển sulfide để tạo thành cystathionin cần có men xúc tác trong thành phần có vitamin B6.
Quá trình tái metyl hóa để tạo thành methionin cần N -5- metyl tetrahydrofolat (cung cấp metyl) và vitamin B12 (cobalamin) như là coenzyme. Như vậy, chuyển hóa homocystein liên quan chặt chẽ với 3 vitamin: acid folic, B12 và B6 (36).
Sự mất cân bằng của methionin – homocystein trong cơ thể có thể do các khuyết tật di truyền hoặc do thiếu 3 vitamin nhóm B này.
Bình thường lượng homocystein huyết thanh (tHcy) trong cơ thể người khỏe mạnh vào khoảng 5 – 10 µmol/l, trên 16 µmol/l coi là cao, trên 100 µmol/l là rất cao.
Nhiều nghiên cứu đã cho thấy có mối liên quan chặt chẽ giữa lượng µmol/l cao với bệnh tim mạch một cách độc lập với các nguy cơ đã biết khác như tổng số cholesterol LDL, HDL, chỉ số khối cơ thể và tăng huyết áp.
Homocystein có tính độc đối với nội mô mạch máu, giúp sự tăng kết dính tiểu cầu và biến đổi nhiều yếu tố đông máu.
Như trên đã nói, trong chuyển hóa homocystein cần có sự tham gia của bộ ba vitamin nhóm B: B12, B6 và acid folic nhưng trong số đó acid folic tỏ ra có hiệu lực nhất để giảm mức homocystein trong máu khi cho bổ sung một cách riêng rẽ.
Với tình trạng hiểu biết hiện nay, người ta khuyên nên tăng cường acid folic trong các loại hạt (theo FDA Hoa Kỳ từ tháng 1/1998 đã cho phép tăng cường các loại bột và hạt ngũ cốc ở mức 140 µg acid folic/ 100g). Đối với người trung niên và người già cho bổ sung 400 µg/ ngày là có lợi. Ở những người có nguy cơ cao về bệnh tim mạch hoặc biến chứng thai nghén, bổ sung các vitamin nhóm B này là có lợi.
Đậu tương và bệnh tim mạch (37)
Từ lâu người ta đã nhận thấy các protein nguồn gốc thực vật tốt với sức khỏe hơn protein động vật, đặc biệt là đối với cholesterol. Các quốc gia tiêu thụ nhiều đậu tương có tỷ lệ tử vong do bệnh tim mạch thấp hơn các quốc gia tiêu thụ chủ yếu protein động vật. Phân tích đa cấp 38 công trình thử nghiệm lâm sàng cho thấy thay thế protein đậu tương cho protein động vật có tác dụng giảm rõ rệt tổng cholesterol, LDL – cholesterol và triglyceride. Một khẩu phần có lượng chất béo thấp, protein cao có thể có lợi cho sức khỏe tim mạch hơn là khẩu phần truyền thống có ít chất béo và nhiều glucid nhất là ở các trường hợp có triglyceride cao. Năm 1999 cơ quan quản lý thuốc và thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã khuyến nghị sử dụng ít nhất 25 g đậu tương mỗi ngày nhằm làm giảm nguy cơ bệnh tim mạch.