Suy dinh dưỡng protein

Chính vì vậy việc xem xét các vấn đề đó trong thời kỳ chuyển tiếp có một ý nghĩa quan trọng trong hoạch định một đường lối sức khỏe vừa giải quyết các nhiệm vụ trước mắt vừa chủ động hướng tới tương lai.
Nước ta đang bước vào thời kỳ chuyển tiếp về dinh dưỡng. Thật vậy, cho đến cuối những năm 80, nước ta vẫn còn thiếu gạo nhưng từ đầu những năm 90, nước ta đã đủ gạo ăn mà còn có để xuất khẩu. Chế độ phân phối thực phẩm theo tem phiếu đã chấm dứt nhường chỗ cho sự lựa chọn thực phẩm tự do trên thị trường. Điều đó tạo nên thuận lợi cho sự thanh toán một số bệnh dinh dưỡng như tê phù do thiếu vitamin B1 (do ăn gạo mốc, gạo tấm, gạo kém chất lượng), giảm tình trạng suy dinh dưỡng sau thiên tai do đói, bữa ăn của người dân được cải thiện hơn.
Khẩu phần thực tế trung bình đang thay đổi theo mô hình chung của các nước ở thời kỳ chuyển tiếp: lượng lương thực, khoai củ, rau giảm; lượng thịt, chất béo, trứng, sữa tăng lên rõ; lượng cá và thủy sản không thay đổi.
Đồng thời, nhiều loại bệnh mạn tính của thời kỳ mới đã tăng rõ rệt, trở thành mối quan tâm cao của cộng đồng: thừa cân và béo phì, đái tháo đường, tăng huyết áp, một số bệnh tim mạch, loãng xương …
Trong bối cảnh đó, nếu để tình hình diễn biến một cách tự phát, chúng ta sẽ lặp lại quá trình của nhiều nước phát triển đã từng trải qua sau Thế chiến thứ hai: đó là sự tăng nhanh lượng thịt, lượng chất béo trong khẩu phần, cùng với sự gia tăng các bệnh tim mạch, đái tháo đường, béo phì… Bài học thành công của nhiều nước đã phát triển cho thấy dinh dưỡng dự phòng phải là thành tố thiết yếu trong chiến lược kiểm soát các bệnh mạn tính đó (2,21,42).
Dưới đây chúng tôi xin đề cập đến một số vấn đề quan trọng nhất:
Suy dinh dưỡng Protein – năng lượng (PEM) ở trẻ em vẫn còn là một thách thức quan trọng hàng đầu
Trong nhiều năm qua, đặc biệt từ khi có Kế hoạch Hành động quốc gia về Dinh dưỡng (1995) và Mục tiêu Phòng chống Suy dinh dưỡng Trẻ em, tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em Việt Nam đã giảm nhanh hơn trước đây, liên tục và bền vững.
Qua bảng trên cho thấy thời kỳ 1985 – 1995, mỗi năm giảm được 0,6% nhưng từ 1995 đến 2001 đã giảm mỗi năm 1,2%. Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em còn cao là một trở lực lớn của sự phát triển, của chất lượng nguồn nhân lực của đất nước. Mục tiêu phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em đã có được sự quan tâm cao của nhà nước và cần được tiếp tục triển khai tích cực, bền bỉ trong các năm tới.