Uncategorized

Tình trạng béo phì ở các lứa tuổi

Ở Hoa Kỳ, tỷ lệ thừa cân ở phụ nữ thuộc tầng lớp dưới cao gấp 7 -12 lần so với tầng lớp trên.
Đáng chú ý là tình hình béo phì trẻ em không ngừng gia tăng. Ở Hoa Kỳ, tỷ lệ trẻ em thừa cân (ở ngưỡng 85 percentin cân nặng theo chiều cao) ở trẻ em và thanh thiếu nhiên 5 – 24 tuổi Bang Louisiana tăng gấp đôi trong khoảng 1973 và 1994, ở Nhật cũng có tình trạng tương tự, tỷ lệ trẻ em học sinh thừa cân (> 120% cân nặng nên có) tăng từ 5% đến 10% trong khoảng 1973 đến 1993. Tỷ lệ tăng cao nhất ở trẻ em học sinh 9 – 11 tuổi. Béo từ lúc còn bé có nhiều nguy cơ dẫn tới béo về sau này, cũng như các rối loạn bệnh lý khác liên quan tới béo. Theo nghiên cứu tại Nhật Bản khoảng 30% số trẻ em béo phì trở thành người béo phì lúc trưởng thành. Ở Thái Lan tỷ lệ trẻ em béo phì ở học sinh 6 – 12 tuổi (cân nặng /chiều cao > 120%), vùng Bangkok tăng từ 12,2% năm 1991 đến 15,6% năm 1993. Ở Việt Nam, từ 1995 đến nay, thừa cân và béo phì đang tăng nhanh theo thời gian. Tỷ lệ thừa cân và béo phì ở thành phố cao hơn nông thôn, lứa tuổi học sinh tiểu học (6 – 11 tuổi) và người trưởng thành trung niên (40 – 50 tuổi) cao hơn cả. Ở thành phố Hà Nội, Hồ Chí Minh, Hải Phòng tỷ lệ thừa cân ở trẻ em học sinh tiểu học đã chung quanh 10% một vấn đề có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng.
Phân bố mỡ trong cơ thể
Ngày nay người ta đã thấy rõ vị trí và số lượng của tổ chức mỡ trong cơ thể đều có ảnh hưởng quan trọng đến sức khỏe. Loại béo “bụng” (hay béo hình “quả táo” – android) có nguy cơ về sức khỏe cao hơn loại béo phần dưới (hình quả lê – gynoid). Nguy cơ sức khỏe ở loại béo bụng tăng lên do có nhiều mỡ ở nội tạng (hay trong ổ bụng).
Để tìm hiểu sự phân bố của mỡ trong cơ thể người ta dùng các kỹ thuật hình ảnh hoặc nhân trắc. Các kỹ thuật hình ảnh như siêu âm, cộng hưởng từ (MRI: magnetic resonance imaging), hấp thụ tia X năng lượng kép (DEXA: dual energy X – ray absorptiometry) có ưu điểm là tách được khối mỡ dưới da và mỡ bụng tuy vậy đắt tiền nên chỉ dùng ở các nghiên cứu lâm sàng. Các kỹ thuật nhân trắc (vòng bụng, tỷ số vòng bụng /vòng mông) không đánh giá trực tiếp được mỡ nội tạng nhưng nhanh, ít tốn kém nên có giá trị cao ở các nghiên cứu cộng đồng.